Diễn đàn chia sẻ chữa khỏi bệnh dạ dày an toàn hiệu quả!


TỔNG HỢP PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM VI KHUẨN HP DẠ DÀY

1 nhận xét
Hiện nay có rất nhiều phương pháp chuẩn đoán viêm dạ dày, cũng như chuẩn đoán vi khuẩn Hp trong dạ dày. Các phương pháp phổ biến hiện nay mang lại kết quả tương đối chính xác cũng như không gây nguy hại đến sức khoẻ con người. Bài viết dưới đây Blog chữa khỏi bệnh đau viêm dạ dày giới thiệu đến quý vị tổng hợp các phương pháp xét nghiệm vi khuẩn Hp trong dạ dày mang lại kết quả cao nhất:

Vi khuẩn Hp


Các phương pháp xét nghiệm vi khuẩn Hp trong dạ dày được chia làm hai nhóm cơ bản:

  • Thử nghiệm thông qua nội soi dạ dày, xâm lấn xét nghiệm vi khuẩn.
  • Xet nghiệm không xâm lấn đến dạ dày.

I. Thử nghiệm thông qua nội soi dạ dày, xâm lấn xét nghiệm vi khuẩn.

Xét nghiệm thông qua nội soi dạ dày

1. Test nhanh urease:

  • Nguyên tắc của thử nghiệm: nhằm phát hiện men urease của HP, HP gần như là loại vi khuẩn duy nhất trong dạ dày tiết men urease với khối lượng lớn (ngoại trừ một số rất ít bệnh nhân bị nhiễm Helicobacter helmanii). Men urease của HP có trong mẫu mô dạ dày sẽ làm biến đổi ure thành amoniac ( NH3), NH3 làm môi trường thuốc thử có pH kiềm, vì vậy làm thay đổi màu của chất chỉ thị và theo phản ứng sau:
  • Urê + H2O -------> CO2 + NH3
  • Độ nhạy của xét nghiệm: 85 – 90%.
  • Độ đặc hiệu: 95 – 98%.
  • Ưu điểm: Kinh tế, cho kết quả nhanh (15 phút đến 3 giờ), đơn giản, giá thành thấp để phát hiện H. Pylori
  • Nhược điểm: là phương pháp xâm lấn và không đánh giá được mức độ viêm.
Các trường hợp âm tính giả có thể do: mật độ vi khuẩn thấp, đang xuất huyết tiêu hóa, teo niêm mac dạ dày, u MALT, mới vừa dùng kháng sinh hoặc PPIs. Các trường hợp dương tính giả gặp trong nhiễm H.heilmanii, vi khuẩn này cũng sinh ra men urease và thường gặp trong dạ dày của chó, mèo, lợn. Khi độ toan dịch vị thấp, dương tính giả còn có thể gặp ở những trường hợp nhiễm vi khuẩn khác cũng sinh ra men urease như Enterobacter và Pseudomonas.sp.

2. Nuôi cấy vi khuẩn:

  • Nguyên tắc của phương pháp: Lấy mẫu mô niêm mạc dạ dày đem nhuộm Gram để tìm sự hiện diện của vi khuẩn. Để xác định chính xác nhiễm HP về mặt phương diện vi trùng học cần phải nuôi cấy vi khuẩn.
  • Độ đặc hiệu: gần 100%.
  • Độ nhạy: 70 – 90%.
  • Ưu điểm của phương pháp: Đây là thử nghiệm đặc hiệu nhất và có thể nói đó là tiêu chuẩn vàng có độ đăc hiệu 100%. Nuôi cấy còn cho biết mật độ của HP, cấu trúc gen của các chủng HP khác nhau. Đặc biệt phương pháp có thể làm được kháng sinh đồ.
  • Nhược điểm: là xét nghiệm xâm lấn, chi phí cao, độ nhạy thấp. Không thể là xét nghiệm thường quy, nên dành cho các yêu cầu đặc biệt.

3. Xác định acid nhân của vi khuẩn (ADN):

  • Nguyên tắc của thử nghiệm: Phản ứng khuếch đại gen cho phép phát hiện chuỗi ADN đặc hiệu của HP trong mẫu sinh thiết dạ dày, trong dịch dạ dày, trong chất nhày hoặc trong nước bọt, trong mảng bám răng, trong phân.
  • Độ nhạy: 80 – 97%.
  • Độ đặc hiệu: 83 – 100%.
  • Ưu điểm: Phương pháp này có thể phát hiện mật độ vi khuẩn thấp < 10^6 vi khuẩn trong 1 gam phân.
  • Nhược điểm: là xét nghiệm xâm lấn và không cho phép xác định sự hiện diện của vi khuẩn sống.

4. Chẩn đoán mô bệnh học:

  • Nguyên tắc của phương pháp: nhuộm màu và soi trên kính hiển vi tìm HP trực tiếp trên mẫu mô bệnh học. Phương pháp nhuộm heamatoxyline và eosin (HE), Giemsa, Warthin-Starry, nhuộm tím Cresyle, nhuộm bạc hoặc Acridin Orange, nhuộm bạc cho hình ảnh HP rõ nhất.
  • Độ nhạy của xét nghiệm: 85 – 95%.
  • Độ đặc hiệu: 95 – 100%.
  • Ưu điểm: là phương pháp chuẩn, cung cấp đầy đủ thông tin về tình trạng và mức độ viêm.
  • Nhược điểm: là xét nghiệm xâm lấn.

5. Phản ứng chuỗi Polymerase PCR (Polymerase Chained Reaction):

  • Nguyên tắc của kỹ thuật: Mẫu bệnh phẩm (mô, vi khuẩn,..) được phân tích để lấy ADN đích, tiếp theo là bước khuếch đại từ những primer mồi hoặc là những AND đơn được bắt cặp vào đoạn khởi đầu hay đoạn cuối của chuỗi ADN đích với sự tham gia xúc tác phản ứng tổng hợp của men Taq polymerase (là men chịu được nhiệt độ trích từ vi khuẩn Thermus aquaticus).
  • Ưu điểm: ngoài việc chẩn đoán nhiễm HP trước điều trị, PCR còn dùng để theo dõi sau điều trị tiệt trừ HP. Phân biệt được sự khác nhau giữa tái nhiễm và tái phát, hoặc là một nhiễm khuẩn khác kết hợp. Kỹ thuật PCR cũng được dùng để đánh giá các yếu tố gây bệnh của HP. Liên quan đến kháng thuốc, PCR còn giúp tìm ra gen đột biến tạo ra sự kháng thuốc của vi khuẩn ví dụ đề kháng Clarithromycine là do hiện tượng đột biến gen ở vị trí 23S RNA.
  • Nhược điểm: do chi phí cao, máy đắt tiền, đòi hỏi nhân viên xét nghiệm lành nghề nên kỹ thuật này chưa thông dụng lắm ở Việt Nam nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

II. Xét nghiệm không xâm lấn đến dạ dày.

Xét nghiệm không xâm lấn dạ dày

1. Nghiệm pháp thở C13 (UREA BREATH TEST=UBT):

  • - Nguyên lý: Cũng như test urease, Test hơi thở dựa trên khả năng phân cắt ure của HP. Bệnh nhân ăn thức ăn có chứa ure đánh dấu C13, enzyme urease của HP cắt ure làm thoát ra CO2 có chứa C13, khí thoát ra được thu lại định lượng bằng quang phổ hồng ngoại.
  • Độ nhạy của xét nghiệm: 90%
  • Độ đặc hiệu: 95%
  • Ưu điểm: là test không xâm lấn.
  • Nhược điểm: giá thành cao, không đánh giá được tình trạng viêm
  • Giá trị: là phương pháp lý tưởng để chẩn đoán diệt trừ HP.

2. Chẩn đoán huyết thanh:

  • Nguyên lý của thử nghiệm: xét nghiệm huyết thanh dựa trên việc tìm kháng thể IgG và IgA chống lại H. Pylori. Nồng độ kháng thể cao xuất hiện ngay khi mới bắt đầu hoặc đang nhiễm H. pylori.
  • Độ nhạy của xét nghiệm: 85%
  • Độ đặc hiệu: 70 - 80%
  • Ưu điểm: là xét nghiệm không xâm lấn, ít tốn kém và thích hợp cho nghiên cứu dịch tể học với độ nhạy trên 90%.
  • Nhược điểm: không có lợi khi theo dõi diệt trừ H. pylori, độ nhạy và độ đặc hiệu không cao, không đánh giá được mức độ viêm.

3. Test nhanh bằng huyết thanh ( Doctor test):

  • Nguyên tắc của phương pháp: huyết thanh hoặc máu của bệnh nhân được đặt trên một giải sắc ký có chứa sẳn những kháng nguyên đặc hiệu, phản ứng ngưng kết sẽ xảy ra trong vòng 2 – 3 phút và cho kết quả chẩn đoán dương tính.
  • Test nhanh bằng huyết thanh chủ yếu phục vụ cho các bác sĩ lâm sàng thực hành tại các cơ sở y tế, ít khi được áp dụng trong các nghiên cứu.

4. Test huyết thanh phát hiện kháng thể kháng CagA:

  • Ở phương Tây, những chủng HP biểu hiện với CagA (+) có liên quan đến bệnh sinh loét dạ dày tá tràng. Thử nghiệm ELISA phát hiện những protein đặc hiệu của CagA hoặc là kháng thể kháng CagA. Tuy nhiên, ở phương Đông và Nam Mỹ, CagA (+) thấy ở hầu hết các đối tượng và không rõ sự khác biệt trong khả năng gây bệnh.

5. Tìm kháng thể kháng HP trong nước tiểu:

  • Năm 1998, các nhà khoa học Nhật Bản tìm thấy kháng thể IgG kháng HP trong nước tiểu của bệnh nhân. Từ đó mở ra khả năng một phương pháp mới để chẩn đoán nhiễm HP.

6. Dùng PCR chẩn đoán HP trong phân:

  • Trên thực nghiệm người ta đã dùng kỹ thuật PCR để tìm HP trong phân. Tuy nhiên, thử nghiệm này sẽ khó thực hiện nếu bệnh nhân có chế độ ăn nhiều chất xơ. Hiện nay, vẫn chưa có phương pháp nào đơn giản và hữu hiệu để giúp loại bỏ chất xơ này, vì vậy thử nghiệm này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi.

7. Immunoblot:

  • Immunoblot là phương pháp nhằm nghiên cứu sự đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân kháng lại những kháng nguyên khác nhau của HP.
  • Nguyên tắc: những kháng nguyên của vi khuẩn được phân tích bằng phương pháp điện di và được chuyển đến trên một màng nitrocellulose, tiếp theo được tiếp xúc với huyết thanh thử nghiệm. Thử nghiệm Immunoblot có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn nhiều so với chẩn đoán huyết thanh. Giá trị thử nghiệm: dùng để chẩn đoán nhiễm HP và theo dõi kết quả điều trị tiệt trừ HP. Tuy nhiên, thực tế chưa được sử dụng như là một xét nghiệm thường qui.

Tổng hợp các xé nghiệm vi khuẩn Hp cơ bản hiện nay:

1. Test thở: 

  • Đây là phương pháp có độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Phương pháp xét nghiệm này dựa vào cacbon đánh dấu: C13 hoặc C14. Cả hai loại cacbon này đã được Cục quản lý thuốc và dược phẩm Hoa Kỳ cho phép dùng xét nghiệm trên người (FDA), tuy nhiên, C14 không được dùng ở phụ nữ có thai và trẻ nhỏ. Trong trường hợp có nhiễm H.P tại dạ dày thì vi khuẩn sẽ tiết ra urease. Men urease sẽ phân hủy urê trong dạ dày thành amoniac và CO2. Vì vậy khi cho uống C13 hoặc C14, nếu người đó có nhiễm H.P thì sẽ thu được CO2 có chứa cacbon đánh dấu trong khí thở ra. Để đảm bảo cho xét nghiệm được chính xác, người bệnh không được dùng kháng sinh, thuốc giảm tiết axit như omeprazole, cimetidine… và thuốc có chứa bismuth trong vòng 1 tháng trước khi làm xét nghiệm. Đây là một phương pháp xét nghiệm chính xác, an toàn, không gây khó chịu cho người bệnh và đã được tiến hành thường quy tại Việt Nam.

2. Xét nghiệm qua nội soi dạ dày: 

  • Bệnh nhân được tiến hành nội soi dạ dày và lấy mẫu bệnh phẩm từ niêm mạc dạ dày.
3. Có thể sử dụng clo-test để phát hiện H.P, đây là loại test nhanh được tiến hành ngay tại phòng nội soi.

4. Xác định H.P bằng kính hiển vi: 

  • quan sát thấy vi khuẩn trên mẫu bệnh phẩm sau khi nhuộm Giemsa hoặc nhuộm bạc.
  • Người ta cũng có thể nuôi cấy được H.P bằng cách lấy bệnh phẩm qua nội soi dạ dày, đồng thời làm kháng sinh đồ cho phép xác định mức độ nhạy cảm với kháng sinh và tính kháng thuốc của vi khuẩn.

5. Xét nghiệm máu: 

  • Bằng cách tìm kháng thể chống lại H.P trong máu cho phép xác định trong thời gian gần đây có bị nhiễm H.P hay không. Vì kháng thể trong máu giảm rất chậm, do đó sau điều trị diệt hết H.P, nồng độ kháng thể vẫn tiếp tục còn lại trong máu của người bệnh sau một thời gian dài, bởi vậy phương pháp này không thể xác định hiện tại bệnh nhân còn nhiễm hay đã hết nhiễm H.P.
Ngoài ra người ta còn có thể xét nghiệm kháng thể kháng H.P trong nước tiểu, xét nghiệm C13 gắn vào urê trong máu, xét nghiệm antigen của H.P trong phân.

Trên đây là tổng hợp các phương pháp nội soi dạ dày cơ bản nhất hiện nay. Thông qua bài vi

1 nhận xét: Diễn đàn Cùng chia sẻ thông tin với blog. ▼

  1. Vi khuẩn Hp này có chữa được không ạ ?

    Trả lờiXóa

➠ Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu. Ban biên tập Blog có thể sẽ biên tập nội dung phản hồi của quý vị cho phù hợp với tiêu chí chung của blog). Xin cảm ơn phản hồi của bạn đọc gửi tới. Xem thêm thông tin về tôi: ➥Click tại đây

 

Blog chia sẻ phương pháp chữa bệnh dạ dày

Tôi là Nguyễn Văn Trường, tôi lập ra Blog này với mong muốn đây là nơi chia sẻ của cá nhân tôi và kết nối chia sẻ những cách chữa bệnh đau viêm dạ dày của đông đảo bạn đọc chia sẻ. Hy vọng những đóng góp chia sẻ của tôi cùng các thành viên tại Blog sẽ giúp bạn trong việc điều trị bệnh. Cũng rất mong những đóng góp, chia sẻ của bạn đọc để diễn đàn ngày một nhiều thông tin hữu ích đến mọi người. Xem thêm thông tin về tôi Click TẠI ĐÂY .

Blog chia sẻ

Copyright © 2013 Chữa bệnh đau dạ dày All Right Reserved